Uncategorized

Đường Bá Hổ – Đòa Hoa Am ca


Đường Dần tự là Tử Uý, Bá Hổ (nên còn được gọi là Đường Bá Hổ), hiệu là Lục Như cư sĩ, Đào Hoa am chủ, Lỗ quốc đường sinh, Thoát thiền tiên lại, tự xưng là Minh triều Giang Nam đệ nhất phong lưu tài tử.

Tương truyền ông sinh vào giờ Dần, ngày Dần, tháng Dần, năm Dần (Thành hóa thứ 6 đời Hiến Tông nhà Minh) do vậy được đặt tên là Đường Dần.

Đường Dần (chữ Hán: 唐寅; ) là một danh hoạ, một nhà thơ nổi tiếng đời nhà Minh.

20081016172059430_22

Đường Bá Hổ là đệ tử xuất sắc của danh hoạ Chu Thần.

Đường Dần người huyện Ngô thuộc Tô Châu – tỉnh Giang Tô, xuất thân trong một gia đình buôn bán.

Trong dân gian có rất nhiều truyền thuyết về Đường Bá Hổ, đặc biệt là câu chuyện đã được dựng thành phim là: “Đường Bá Hổ Điểm Thu Hương”, nhưng đó hoàn toàn là truyền thuyết và ông chưa hề lấy Thu Hương. Theo nghiên cứu ông có 3 người vợ. Năm 19 tuổi ông cưới vợ là Từ thị là thứ nữ của Từ Đình Thụy, nhưng khi ông khoảng 24 tuổi thì người vợ đầu qua đời. Sau đó có lẽ ông đã cưới người vợ thứ hai, nhưng gặp khi bị liên lụy ở khoa trường, nên bà này đã bỏ đi. Về sau ông lấy người vợ họ Thẩm tên là Cửu Nương, người đời 1 đồn mười, mười đồn trăm, cuối cùng thành ra: Đường Dần cưới 9 người vợ. Còn Thu Hương không phải là nô tì trong phủ họ Hoa mà là một danh kỹ ở Nam Kinh, có cuộc đời đầy trắc trở.

Trong thời gian tuổi trẻ, Đường Dần đã gặp phải một biến cố lớn trong gia đình, đó là cuối năm ông 24 tuổi, cha ông và người vợ đầu đã lần lượt qua đời, và đến đầu năm sau, mẹ cùng người em gái lại lần lượt ra đi. Trong một thời gian ngắn, mất đi 4 người thân, chỉ còn lại ông và người em trai dựa vào nhau mà sống. Từ năm 16 tuổi Đường Dần đã là một “khóa sinh”, nhưng ông có vẻ không ham công danh. Sau 3 năm chịu tang, và có lẽ cũng nhờ sự khuyên nhủ của Chúc Doãn Minh, ông mới chịu khó đọc sách 1 năm rồi tham gia khoa thi hương năm Mậu Ngọ niên hiệu Hoằng Trị (1498) ở phủ Ứng Thiên (Nam Kinh) và đã đỗ Giải Nguyên (đứng đầu khoa). Vì vậy trong rất nhiều ấn chương của Đường Dần còn có ấn: “Nam Kinh Giải Nguyên”. Lúc này, danh tiếng của Đường Dần đã rất cao, quan chủ khảo kỳ thi năm ấy ở Nam Kinh là Lương Trữ sau khi xem văn của ông đã thốt lên: “Kẽ sĩ có kẻ kỳ tài như vậy sao? Giải nguyên thực đáng lắm!” đồng thời giới thiệu ông lên Trình Mẫn Chính là quan chủ khảo kỳ thi hội 2 năm sau. Tuy nhiên từ trước đó, Đường Dần đã quen biết các bậc đại nho ở đất Ngô như: Văn Lâm (cha của Văn Trưng Minh), Vương Ngao, Nghê Nhạc, Ngô Khoan … và rất được coi trọng trên văn đàn.

Nhưng trong kỳ thi hội 2 năm sau, Đường Dần không may gặp liên lụy trong chuyện Hoa Sưởng vu cáo quan chủ khảo Trình Mẫn Chính, rằng Mẫn Chính tiết lộ đề cho một số người trong đó có Đường Dần.

Bá Hổ đi Kinh thành tham gia thi tổng hợp, công danh phú quý sắp thành, thế nhưng tên đại địa chủ ở Âm Giang tên là Tư Kinh cùng đi thi với Bá Hổ đã hối lộ cho quan coi thi Gia Đồng, cho nên hắn ta có được đề thi trước. Sau khi vụ việc bị bại lộ, Đường Bá Hổ cũng bị liên lụy, bị bắt ngồi tù, bị tra đánh lăng nhục. Kể từ đó, vốn có đức tính thanh cao, Đường Bá hổ hết sức có ác cảm đối với việc thi cử quan trường. Bá Hổ kết bạn với Trương Linh, một tay chơi cuồng nhiệt, hằng ngày hai người cứ là uống rượu phè phỡn với nhau, về sau dưới sự khuyên nhủ của người bạn thân tên là Doãn Minh, Bá Hổ mới quyết tâm tu trí học tập, đồng thời quyết tâm lấy viết thơ viết lách hội họa làm kế sinh nhai cho cả đời mình.

Tuy cuối cùng triều đình xét ra ông không liên quan, nhưng kể từ đó Đường Dần chán ghét và từ bỏ con đường sĩ hoạn, chỉ đi du ngoạn các danh sơn ở Giang Nam và Hoa Trung. Năm Chính Đức thứ 4 (1509), Đường Dần dựng cư thất trên đất vườn cũ của Chương Trang Giản đời Tống ở bắc thành Tô Châu gọi là Đào Hoa Ổ, và bắt đầu cho ra đời một lượng lớn các tác phẩm nổi trội. Tranh nhân vật họa của ông chủ yếu miêu tả các câu chuyện lịch sử và cuộc sống của sĩ nữ (quan lại và mỹ nữ) xưa nay. Trong tranh của Đường Dần còn có ấn chương: “Giang Nam Đệ Nhất Phong Lưu Tài Tử” nên về sau người đời lưu truyền gọi ông là “Phong lưu tài tử” là “Phong lưu họa gia” … Năm Chính Đức thứ 9 (1514) ông làm mạc khánh trong phủ Ninh vương Chu Thần Hào ở Nam Xương – Giang Tây, Đường Dần phát hiện ra Ninh vương có mưu đồ phản nghịch, không muốn tham gia cùng, nên Đường Dần đã uống rượu giả điên, ép kỹ nữ phải khỏa thân, buộc Ninh vương phải thả cho ông về Tô Châu. (Chuyện: “Đường Bá Hổ điểm Thu Hương” chính là dựa trên bối cảnh này)

Vào những năm cuối đời, Đường Bá Hổ tín ngưỡng Phật Giáo, từng làm thơ tự trách mình rằng, đại trượng phu không mang công danh, cũng nên khảng khái mạnh khỏe, rồi khắc con dấu triện tự phong mình là “Tài tử phong lưu đệ nhất Giang Nam”. Sau khi được Ninh vương Nam Xương tuyển dụng, phát hiện Ninh Vương có ý định làm phản, Bá Hổ liền giả điên, tư tưởng tương đối suy đồi.
Trong lịch sử Trung Quốc, có rất nhiều những câu chuyện thú vị phong lưu về Đường Bá Hổ, những bộ phim truyện như “Đường Bá Hổ điểm Thu Hương”, “Tam Tiếu” v v… đều là cải biên theo truyền thuyết của Đường Bá Hổ mà thành.

Thời nhà Minh, Ninh Vương Chu Trấn Hào rất ngưỡng mộ tài năng của họa sĩ Đường Bá Hổ. Ông ta từng cử người mang rất nhiều vàng bạc đến Tô Châu để mời Đường Bá Hổ về nhà mình. Sau khi Đường Bá Hổ đến, Ninh Vương sắp xếp cho ông ta ở trong một nhà trọ sang trọng, đối xử rất nhiệt tình, chu đáo. Đường Bá Hổ ở đó nửa năm, thấy Ninh Vương làm rất nhiều chuyện coi thường luật pháp triều đình, nên ông suy đoán rằng sau này Ninh Vương chắc chắn sẽ làm phản, vì vậy ông giả điên giả dại.

            Ninh Vương sai người đem quà đến tặng cho Đường Bá Hổ. Ông bèn gỡ hết quần áo ra, ngồi giữa nhà, còn chửi bới người của Ninh Vương. Người nhà Ninh Vương mang quà về, bẩm báo mọi chuyện cho ông ta biết. Vương Ninh nói: ”Ai bảo Đường Bá Hổ là một hiền tài? Theo ta, hắn chỉ là một kẻ cuồng sĩ mà thôi!”. Thế là Ninh Vương bèn ra lệnh đưa Đường Bá Hổ về quê. Không lâu sau, quả nhiên Ninh Vương dấy binh làm phản.

Khi Đường Bá Hổ trở lại Tô Châu sau chuyến lãng du đó, gia đình ông rơi vào cảnh cùng túng, vợ con lại bỏ nhà đi, bản thân ông phải mưu sinh bằng cách bán văn bán tranh và giải sầu bằng những nét đan thanh. Năm 36 tuổi, ông dời đến Thung Lũng Hoa Đào (Đào Hoa Ổ) dựng mái lều tranh bằng tiền bán tranh và tiêu dao ở đó cho đến cuối đời.

Năm 1523, Đào Hoa Am Chủ bệnh rồi mất ở Đào Hoa Am giữa Thung Lũng Hoa Đào, như ước nguyện sinh thời, để lại bài Đào Hoa Am Ca 桃 花 庵 歌muôn đời bất hủ:

Bản Đường Dần viên, Tô Châu:

桃花坞里桃花庵 Đào hoa ổ lý đào hoa am/   Thôn hoa đào có “am” hoa đào  (am: lều tranh)

桃花庵下桃花仙 Đào hoa am há đào hoa tiên/ “Am” hoa đào có tiên hoa đào

桃花仙人种桃树 Đào hoa tiên nhân chủng đào thụ/ Tiên nhân hoa đào từ loài cây đào

又折花枝当酒钱 Hựu chiết hoa chi đương tửu tiền/ Lại đổi cành hoa lấy tiền rượu.

酒醒只在花前坐 Tửu tỉnh trích tại hoa tiền tọa/ Chỉ tỉnh rượu lúc ngồi trước chốn hoa

酒醉还须花下眠  Tửu túy hoàn tu hoa hạ miên/ Say rượu lại chờ hoa hạ xuống

花前花后日复日 Hoa tiền hoa hậu nhật phục nhât/ Trước hoa, sau hoa, ngày lại ngày

酒醉酒醒年复年 Tửu túy tửu tỉnh niên phục niên/ Say rượu, tỉnh rượu,  năm lại năm.

不愿鞠躬车马前 Bất nguyện cúc cung xa mã tiền/ Chẳng nguyện cúi mình trước xe ngựa

但愿老死花酒间 Đãn nguyện lão tử hoa tửu gian/ Vẫn nguyện chết già chốn rượu hoa

车尘马足贵者趣 Xa trần mã túc quý giả thú/ Xe ngựa trần, “chân quý” có kẻ đón

酒盏花枝贫者缘 Tửu trần hoa chi tử giả duyên/ Chén rượu, cành hoa, thiếu người có duyên.

若将富贵比贫贱 Nhược tương phú quý bì bần tiện/ Đem phú quý so với bần tiện

一在平地一在天 Nhất tại bình địa nhất tại thiên/ Một chốn đất yên. một chốn tiên

若将贫贱比车马 Ngược tương bần tiện bì xa mã/ Đem bần tiện so với ngựa xe

他得驱驰我得闲 Tha đắc khu trì ngã đắc nhàn/ Ngươi được cưỡi ngựa, ta được chuồng

世人笑我忒疯癫 Thế nhân tiếu ngã thắc phong điên/ Nhân thế cười ta hóa khùng điên (Thế nhân: người đời)

我笑世人看不穿 Ngã tiếu thế nhân khán bất xuyên/ Ta cười nhân thế nhìn chẳng thấu

记得五陵豪杰墓 Kí đắc Ngũ Lăng hào kiệt mộ/ Nhớ rằng mộ Ngũ Lăng hào kiệt

无酒无花锄作田 Vô tửu vô hoa sừ tác điền/ Ko rượu ko hoa làm cuốc đất.

Link: http://baike.baidu.com/view/109511.htm

Dịch thơ:

Ở thôn đào có am hoa đào

Am hoa đào có tiên hoa đào

Tiên hoa đào lại từ cây đào

Lấy đổi cành hoa lấy đổi rượu.

Tỉnh rượu lại đã ngồi trước hoa

Say rượu lại chờ hoa rụng xuống

Trước hoa, sau hoa, ngày lại ngày

Say rượu, tỉnh rượu, năm lại năm.

Chẳng chịu cúi mình trước ngựa xe

Lại nguyện chết già giữa chốn hoa

Xe ngựa, quyền thế, kẻ đón đưa

Có rượu, có hoa, thiếu bạn cùng.

Đem phú quý so với bần tiện

Một chốn đất yên, một chốn tiên

Đem bần tiện so với ngựa xe

Người thích chạy ngựa, ta thích chuồng.

Nhân thế cười ta bảo khùng điên

Ta cười nhân thế nhìn chẳng “xuyên”

Nhớ mộ Ngũ lăng hào kiệt xưa

Không rượu, không hoa, cuốc đất làm.

c2fdfc039245d688369660cea4c27d1ed31b0ef41ad504f8
Khán tuyền thính phong đồ

Tranh Đường Bá Hổ

*Cười* Lại đây ^.~!

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s